Nhà vua bèn chỉ mặt người vừa van nài bảo: “Mụ ra mà bế con mụ về”, đồng thời lệnh tống người nữ giới còn lại vào ngục vì tội bắt cóc trẻ nít
Mà nhận diện sự thật thì chỉ lý lẽ không thôi là không vững chắc. Vơ cuốn sách là diễn biến của 17 cuộc vượt ngục kinh khủng của người tù tên là Papilon. Ví mọi quan tòa đều đọc cuốn sách ấy để thấy sự thật khó tước như thế nào, dù dựa trên bất cứ danh nghĩa gì.
Tát nếu không phải viên đá, mà là quả bom tấn nổ chậm còn sót lại thì mọi sự sẽ thế nào? Chuyện này cũng phải được đặt ra. Xantrô bèn bảo hắn đứng dậy, ghé tai nói nhỏ: “Đuổi theo mụ ta mà lấy lại tiền”. Nhưng có những lý lẽ cao nhất lại chỉ có trái tim lương thiện mới minh định được.
Cho nên người sáng ý chính là người nhận ra những giới hạn của mình. Phán quyết thứ nhất có thể đúng về lý nhưng vô tình. Gã thương nhân quỳ mọp xuống kêu oan, trong khi người nữ giới thì khôn cùng thoả nguyện, đùm tiền vào áo, cảm ơn “quan tòa” sáng láng như trời rồi xin được về nhà ngay. Anh ta đấu tranh để đòi lại những thứ đã bị tước mất một cách khuất tất và bất lương.
Khi một quan tòa tự tín đến mức cho mình là người hoàn hảo về trí óc, thì phải nghiêm cấm anh ta ngồi ghế xét xử. Bên nguyên là một nữ giới, bên bị là gã thương lái. Đó là từ hơn 2000 năm trước người Do Thái đã có một quy định lạ đời-so với thế giới- trong việc xét xử tù. Người Do Thái cho rằng khi ai đó bị thảy chống lại, kiên cố anh ta không phải là tù tầm thường.
Bà nào cũng khẳng định đứa trẻ là con của mình. Xét cho cùng, mọi phán xét pháp lý chỉ thuyết phục khi nó đảm bảo sự thật được coi trọng tuyệt đối và sự thật đang ở trong tay phía đưa ra phán xét.
Chuyện thứ nhất kể vua Salomon xử kiện vụ hai bà mẹ tranh nhau một đứa bé. Trong trường hợp ấy, giữa khả năng để lọt phạm nhân, kể cả tội phạm hiểm và giết oan một người vô tội, thì tòa án Do Thái đã chọn thà để lọt tù túng còn hơn giết oan. Nguy cơ có rất nhiều người bị kết án oan bởi anh ta là khôn cùng lớn. Chính cái khoảng trống biểu lộ sự thiếu tự tín ấy, là chỗ để trái tim chen ngang và nói ngôn ngữ của mình.
Nhưng có những lý lẽ cao nhất lại chỉ có trái tim lương thiện mới minh định được. Còn phán quyết như tòa vừa tuyên thì vững chắc có người cảm thấy bị hại, bị đối xử bất công (hàng loạt người xung quanh đào ao thì không sao!) đó là bà Sắc.
Xử án là dựa trên chứng cứ và lý lẽ. Thành thử, khi họ bị tước đoạt của cải họ có thể cam chịu, còn nếu bị tước đoạt sự thực, thì họ sẽ tìm mọi cách để lấy lại bằng được. Xử án là dựa trên chứng cớ và lý lẽ. Nhưng tôi biết chắc nếu tòa án huyện Chư-Sê phán trái lại, trả hòn đá cho bà Trần Thị Sắc cũng không hề sai. Nhưng nó có giá trị như một dụng cụ tiếp cận sự thực.
Những câu chuyện vừa kể cho thấy rõ nhất một điều, bất cứ ai, dù có là nhân kiệt, cũng có thể mắc sai trái bởi khả năng của con người là có hạn.
Bấy giờ “quan tòa” vốn là gã đánh xe ngựa mới dõng dạc đáp: “Nếu nhà ngươi cũng bảo vệ phẩm tiết như vừa bảo vệ túi tiền thì liệu hắn ta có làm gì được không? Thể nào cũng có nguyên tố thông đồng” Người đàn bào tẽn tò trả lại tiền rồi bỏ đi trong nỗi xấu hổ. Còn nếu theo phán quyết thứ hai thì vẫn đúng về lý, lại có tình, mà cũng thuận lẽ thiên nhiên: coi như viên đá (tài sản không hề lớn, khoảng 1,5 tỉ đồng như định giá của cơ quan quốc gia) là do trời cho bà Sắc.
Nguyên đơn tố bị đơn đã cưỡng bức chị ta. Có ba câu chuyện can hệ đến xử án mà tôi thuộc từ thời trẻ khi đọc sách nhưng cứ liên tục phải ngẫm ngợi cho đến tận giờ. Ai đó bị 51 người trở lên trong Hội đồng xét xử phán có tội, tức tốc hắn ta bị tống giam hoặc đưa đi treo cổ.
Những kinh nghiệm đó không thể thay thế các phán xét dựa trên những chứng cớ mà lý trí tin cậy, càng không thể thay thế các nguyên tắc pháp lý là mọi sự phải được chứng minh bằng thứ ngôn ngữ rõ ràng, có logic khoa học, theo đúng chính tả và không bị hiểu sai.
Nhưng then chốt của vấn đề là không ai bị hại bởi phán quyết như vậy. Ngôn ngữ ấy mang theo bít tất kinh nghiệm sống, tất kinh nghiệm lịch sử về lẽ phải, tất thảy kinh nghiệm về cái có lý ở đời mà không tiếng nói nào có thể biểu đạt hết.
Chuyện thứ hai là vụ xử kiện của “quan tòa” Xantrô Panxa, nhân vật đánh xe trong tác phẩm Donkihote của Xecvantec, khi ông được làm thống đốc một hòn đảo. Những cách ấy bao gồm cả việc trà đạp lên những sự thực khác.
Gã lái buôn nghe xong bèn lao vụt theo người đàn bà khi đó đã cách một quãng xa. Khi đó sức lực của con người là vô cùng khủng khiếp, cả ở khả năng tự vệ cũng như gây họa cho tầng lớp.
Papilon hoàn toàn tinh thần được rằng, anh ta có thể phải chết, thậm chí chết một cách đớn đau như bị bắn vỡ sọ và rơi xuống nền đá từ độ cao hàng trăm mét, bị thú rừng xé nát, bị cá mập nuốt tươi, bị làm mồi nhắm rượu cho bọn cướp biển…Có trập trùng hiểm nguy dựng lên trước mặt anh ta.
Hắn lao vào giằng bọc tiền. Xantrô nhìn thấy người phụ nữ vẫn bảo vệ được số tiền, trong khi gã thương lái thì sắp kiệt sức, bèn đập bàn quát: “Con mụ kia, trả lại tiền cho nó! ” Người đàn bà tỏ vẻ sửng sốt không hiểu sao quan tiền giở mặt nhanh thế.
Trời cho ai thì người ấy được. Chuyện thứ ba hệ trọng đến trí anh minh của cả một dân tộc. Biết đâu cũng là do tổ tiên ông bà họ tu thân tích đức con cháu mới đào được viên đá. Chẳng thể tìm ra chứng cứ, vua Salomon bèn đưa ra phán quyết: Sẽ chặt đôi đứa bé, chia cho mỗi bà mẹ một nửa, thế là công bằng! Phán quyết vừa buông ra thì một bà mẹ vội quỳ ngay xuống, khóc lóc khấu đầu van nài nhà vua tha tội vì mình đã nói láo, bởi đứa trẻ là con của bà kia, xin nhà vua trả cho bà ta và không phải chặt đôi đứa bé nữa.
Một nền tư pháp nghiêm trang là phải luôn nhận ra giới hạn về khả năng phán xét của mình. Bởi sẽ không còn khoảng trống của sự chần chờ trong phán quyết mà anh ta đưa ra. Chỉ riêng con số 17 lần vượt ngục, đã đủ thấy độ rủi ro của hành động cao đến mức nào.
Người phụ nữ đi rồi nhưng gã thương nhân vẫn nhất thiết kêu oan. Mà nói như một nhà triết học Hy Lạp thì : “Khi có sức mạnh của sự thật trong tay, tôi chẳng phải sợ gì hết”. Nhưng anh ta vẫn không bỏ cuộc. Có không sao nhiêu nguy hiểm luôn cận kề bên anh ta.
Nghe xong, Xantrô đập bàn ra ngay phán quyết là gã thương buôn phải bồi thường cho người phụ nữ 30 quan vàng, một tài sản rất lớn.
Động cơ lớn nhất thúc giục anh ta hành động chính là vì sau phán quyết của tòa án buộc tội anh ta, sự thật vẫn thuộc về phía anh ta. Vì trong tù anh ta cũng có thể đạt được điều đó. Giá như viên chánh tòa huyện Chư-Sê, tỉnh Gia Lai có đọc cuốn sách ấy và đọc những chuyện hệ trọng đến xét xử mà tôi vừa dẫn, hẳn phiên tòa vụ “hòn đá bị nhốt” không đáng bị thành trò đàm tiếu như đang xảy ra.
Chính là lúc cần phải dựa thêm vào tình. Nhưng nếu cả 100 người trong Hội đồng cùng phán kẻ nào đó có tội, thì tội nhân lại được tha bổng tức tốc. Hội đồng xét xử gồm 100 thành viên được tuyển lựa nghiệt ngã về mặt phẩm hạnh. Hiểm ở đây không chỉ cho uy tín của hệ thống Tòa án, của nền tư pháp, của luật pháp Nhà nước mà cho toàn xã hội. Nếu chỉ vì mạng sống, chắc chắn không ai đủ quả cảm làm như vậy.
Hai bên bèn túm nhau trở lại gặp quan tòa. Tôi không bảo phán quyết của tòa xung công hòn đá, như xung công một tài sản thuộc về sở hữu toàn dân là sai.
Những gì anh ta làm có thể vượt ra khỏi thời đại bởi vậy nằm ngoài khả năng phán xét công bằng của người đương thời.
Trái tim có thể không nên liên quan vào quá trình xét xử, nhưng mọi phán quyết chung cuộc của bất cứ phiên tòa nào, nên tham khảo tiếng nói của nó. Ở đời luôn có những cảnh huống pháp lý như vậy. Nhưng dù đã dùng khôn cùng, gã thương gia vẫn không cách nào đoạt lại được số tiền từ tay người phụ nữ. Nhân vật trong Tiểu thuyết mang tính hồi tưởng Người tù khổ dịch Papilon là nhân vật có thật.
Do thực chất của con người, cả về mặt sinh học lẫn văn hóa là chỉ thần phục sự thật.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét