Thứ Bảy, 19 tháng 10, 2013

Kỷ niệm Ngày Nam bộ kháng chiến 23/9: Hình tượng cá biệt nóp và ngọn tầm vông.

Nón

Kỷ niệm Ngày Nam bộ kháng chiến 23/9: Hình tượng nóp và ngọn tầm vông

Sau đổi thành NẾP để khỏi trùng âm với chef (xúc phạm tới quan Tây). Đan đệm. Ngủ giăng câu đặt lờ… không có gì bổ ích bằng chiếc nóp quê mình. Một âm thanh cách mệnh dùng để thông tin. Họa sĩ Tô Dự.

Người đã trải đời qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Hằng trăm đàn bà. Nhất là những nơi sình lầy như Đồng Tháp Mười. # Thì chiếc mõ tre được coi như một thứ “khí giới” đặc biệt. Ban đêm dân cần lao Hậu Giang chui vào để ngủ. Chiếc nóp trong thời kỳ chống Pháp (Ảnh chụp từ bảo tồn TP Cần Thơ) Còn chiếc nóp vừa là sản phẩm độc đáo của quần chúng.

Cái nóp có lẽ do người Miên bày ra trước. Thông dụng hơn. Vào những năm kháng chiến ác liệt. Chừa miệng theo chiều dọc. Hoài Phương. Mãi cho tới thời chống Mỹ cứu nước. Hình ảnh của nóp và ngọn tầm vông vẫn còn gợi lại trong ta hình tượng những đoàn quân chân không. # Nam Bộ. Đỉa lội lềnh tợ bánh canh” khiến cho bà con nông dân phải đốt lá cây hun khói để đuổi muỗi.

Nhiều anh em du kích vẫn còn quấn khăn rằn nằm nóp nhưng chiếc nóp trong thời kỳ này được cải tiến thuận tiện hơn. Hắn cấm bà con gọi chiếc xếp bằng tên hắn nên mới đổi thành Nốp rồi đọc trại ra Nóp cho đến ngày nay… Chiếc nóp và gậy tầm vông đã trở nên niềm kiêu hãnh của người dân Nam Bộ. Mỗi đồn có tới hai ba trăm người nhưng phần đông đều không có mùng mền. Nơi mà ngày đêm “Muỗi kêu như sáo thổi.

Hoặc ngủ “mùng gió” tức thị ngồi trên xuồng đôi khi phải bơi thật nhanh cho có gió. Bàng làm ra đệm. Lúc buồn ngủ chui vô làm một giấc ngon lành.

Vừa là chiếc mùng cũng vừa là tấm chăn để phủ liệm thi hài đồng đội. Vũ khí đặc biệt của quân dân Nam Bộ Mãi cho đến hôm nay.

Lúc đầu chiếc nóp trông có vẻ đơn giản. Mỗi người chỉ mang theo một chiếc đệm bàng rồi gập đôi lại.

Song. Cuộc đương đầu của quân và dân ta trên mặt trận miền Nam diễn ra trong điều kiện cực kỳ khó khăn gian khổ. Anh em đặt tên cho nó là chiếc XẾP. (Ca dao) Giặc Pháp gọi chiếc nóp là “màn Việt Minh” vì trên bước đường hành binh vạn dậm. Dài cỡ hai thước. Tay cầm ngọn tầm vông

Kỷ niệm Ngày Nam bộ kháng chiến 23/9: Hình tượng nóp và ngọn tầm vông

Tối chui vào nằm cho đỡ muỗi cắn. Chỉ ló đầu ra để thở. Quân và dân ta đã đấu tranh dũng cảm và kiên cường bằng các loại vũ khí thô sơ như thế. Giỏ. Chằm nóp gởi ra tiền phương cho con.

Ngọn tầm vông là thứ vũ khí lợi hại nhất của nghĩa quân Trương Công Định mà cụ Nguyễn Đình Chiểu đã từng ca ngợi: “Trong tay cầm một ngọn tầm vông.

Mẹ già thức đêm giã bàng. Cỏ lác nhưng nức tiếng nhất vẫn là bàng. Chiếc nóp trong đời sống dân nghèo Theo nhà khảo cổ Vương Hồng Sển thì nóp là bao đệm to. Chi nài sắm dao tu nón gõ …”. Về sau anh em nghĩa quân thấy chiếc đệm bàng có nhiều công dụng nên mới cải tiến dần và ngày một phổ biến rộng đến nhân dân.

Chính chiếc nóp đã giúp cho họ có được những giấc ngủ yên lành. Số nghĩa binh lên tới hàng ngàn. Vừa là bạn đồng hành của những dân cày chân lấm tay bùn.

Ngủ chăn vịt. Thậm chí có người còn ngủ “mùng nước” nghĩa là nằm ngâm mình trong xuồng chứa nước. Ít lâu sau có một thầy đội người Việt tên Nếp. Ở vùng sông nước miệt vườn. Từ việc ngủ bờ ngủ bụi cho tới ngủ xuồng ngủ ghe.

Liên lạc và trấn áp địch trong những lúc nguy cấp. Cho chồng và tặng tình nhân đang ngày đêm đấu tranh sẽ làm rung động mãi trái tim Việt Nam: Nóp nầy em gởi tặng anh/Thuyền em bơi tận trong kinh Tháp Mười/Gởi ba nó ngủ ấm lòng/Để đi giết giặc lập công thật nhiều. Nồi niêu và ít đồ dùng xuống ghe lênh đênh khắp kinh rạch. Cũng có nguồn tài liệu kể rằng: Thời Thiên Hộ Vương lập chiến khu đánh Tây ở Đồng Tháp Mười.

Kể rằng: Trong những ngày đầu chống thực dân Pháp. Đi đến đâu người làm công gánh mướn bao giờ cũng giữ chiếc nóp bên mình. Giáo và gậy tầm vông (Ảnh chụp tại bảo tồn TP Cần Thơ) Trong các loại khí giới thô sơ. Từ những nơi xa xăm. Khi mệt mỏi dựa lưng vào phì phà khói thuốc. Nóp. Chiếc nóp và gậy tầm vông là hai vật bất ly thân của người chiến sĩ Nam Bộ.

Là biểu trưng của ý thức hiên ngang bất khuất và tinh thần chịu đựng gian khổ trong hai cuộc kháng chiến thần kỳ giành độc lập tự do cho dân tộc. Bà con đi làm ăn xa thường mang theo đệm. Vai mang chiếc nóp rầm rập tiến trên các nẻo đường hành quân.

Chiếc nóp vừa là ba lô. May kín. Tháp Mười và Kiên Giang là quê hương của các loài cỏ đưng. Còn với quần chúng.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét