Chủ đề mà tôi quan tâm là xem qua các chủ đề “nóng” trên báo chí như về vấn đề Báo cáo về rủi ro, về hàng tồn kho, thay đổi thành viên HĐQT một cách đột ngột hay vấn đề lương thưởng có được phản chiếu tốt hơn qua thời kì hay không? Một điều đáng mừng là tôi nhìn thấy những đổi thay lớn lao, nhất là ở mảng thưa về rủi ro và sự đổi thay đó không chỉ nằm ở các ngân hàng, nơi ít về rủi ro được đặt nặng khá sớm
Bắt đầu bằng những điều tra về cách thức mà nhà đầu tư, giới phân tách tài chính dùng thông tin trong BCTN và những công cụ quan hệ cổ đông khác như thế nào (điều mà nhiều tổ chức nước ngoài đã làm từ lâu), cho đến hỏi thăm những khó khăn mà những người trực tiếp tạo ra BCTN đối diện, chúng ta mới có thể đi đến một góc nhìn rõ ràng chúng ta đang ở đâu, và đã tiến bộ ra sao, còn cách bạn bè xung quanh như thế nào? Nên nhớ rằng, đặc thù của một TTCK nhiều nhà đầu tư nhỏ sẽ cần những chuẩn mực khác với một thị trường nhiều nhà đầu tư lớn.
Bài học của các thị trường đi trước cho thấy cái vòng xoáy đó khôn cùng khó lường khi thanh khoản yếu và khả năng quản trị rủi ro của các tổ chức vận hành kém.
Các DN đạt giải trong kỳ bình chọn BCTN 2012 Nói đi thì phải nói lại, những vấn đề về tính sáng tỏ thông tin và BCTN không chỉ là của riêng Việt Nam. Đáng sửng sốt là sau gần 10 năm từ ngày tôi đọc được những điểm yếu kể trên, chúng vẫn tồn tại. Nói cách khác, không ít nội dung trong BCTN chuyển từ dạng không công bố thông báo sang thể “nói chung chung”.
Và quan yếu nhất trong việc thực thi những điều này là thái độ, không phải làm cho có. Tóm lược 4 điểm đó là (1) thanh khoản kém, vốn hóa thị trường và thanh khoản chỉ giao hội vào một số ít cổ phiếu; (2) thiếu chuồng chồ pháp lý cho việc cho vay chứng khoán cũng như giao dịch trong ngày; (3) chính sách vĩ mô chưa ổn định; (4) chính sách quản lý rủi ro thị trường của nhiều CTCK vẫn chưa đủ chuẩn để dự vào chứng khoán phái sinh.
Đó là chưa nói có những thông điệp dùng nhiều thuật ngữ chuyên môn và rối rắm. Rút cuộc, xin lưu ý là, chúng ta không nên xem xét độ sáng tỏ và chất lượng thông tin chỉ ở bất kỳ một bộ phận nào, chẳng hạn như chơi giới hạn nó trong BCTN, mà phải nhìn trong cách thông tin được truyền tải trên mạng Internet, ở các buổi hội thoại với cổ đông, báo chí và giới phân tích.
Vẫn không được đáp rõ ràng. Câu hỏi mà nhiều người có nhẽ quan tâm là BCTN của các công ty niêm yết của Việt Nam đã tiến bộ gì trong các điểm kể trên, và qua đó phản ảnh sự phát triển của TTCK Việt Nam như thế nào? Có khi nào các BCTN của Việt Nam chỉ được làm sao cho đẹp, nhiều hình ảnh, đưa nhiều thông báo chuyên môn lên đó… chỉ để chiêm ngưỡng mà không cần biết nội dung của nó có rõ ràng, dễ hiểu và bổ ích hay không? Câu trả lời có nhẽ phần nào nằm trong những câu chuyện tôi kể sau đây.
Vì sao vậy? Chắc mỗi người có mỗi câu giải đáp nhưng có thể phần chung của nhiều câu đáp nằm ở thái độ nhìn nhận về TTCK.
Với cá nhân tôi, rất khó để từ những thông báo trong đó nhận ra được nguy song Tập đoàn có thể đối mặt trong lĩnh vực môi trường và điều không may đã xảy ra trong thời gian qua. Liệu đây có phải là một cách để khiến các nhà đầu tư nhỏ sờn trong chuyện đào sâu vào BCTN? Cần thực chất hơn Một vài điểm tản mác trên đây khi tổng hợp lại thì nó vẽ ra một bức tranh về BCTN khá giống với tổng thể TTCK, đó là chúng ta có một bức tranh hào nhoáng hơn kí vãng, nhưng thực chất bên trong không đổi thay nhiều.
Tôi điểm qua khoảng 20 công ty trên thị trường và so sánh Báo cáo của họ từ năm 2005 tới năm 2012, một số trường hợp không có vắng năm 2005 thì bắt đầu từ ít sớm nhất của họ (chẳng hạn 2007, 2008). Tôi tự hỏi, có phải bao năm qua, chúng ta chỉ “trang trí” TTCK một cách hoành tráng hơn, nhưng cái nền tảng thì vẫn vậy? Rõ ràng, ở một thị trường mà hố tiêu pháp lý tương trợ, coi như một phần cơ sở hạ tầng của thị trường còn thiếu, thanh khoản yếu và tập kết vào một số ít cổ phiếu cũng như chính sách quản trị rủi ro kém của các định chế tài chính trung gian thiếu hiệu quả thì khó mà trông mong những nhà đầu tư có tổ chức “cỡ lớn” dự vào thị trường.
Nhưng tôi lại tự hỏi là, một nhà đầu tư nhỏ lẻ liệu sẽ hiểu như thế nào về những biện pháp quản trị rủi ro chung chung được đề cập trong các BCTN kiểu “công ty chủ động tính kỹ lưỡng… (một loạt thuật ngữ chuyên môn)… để hạn chế rủi ro tỷ giá”? Tôi tìm thấy những gương mẫu như thế này ở nhiều mỏng, vậy chúng cung cấp thông báo gì cho nhà đầu tư? Cung cấp nhiều thông tin hơn không có nghĩa là các thông báo đó dễ đọc, dễ hiểu và có ích.
Dù rằng chúng ta đang chuẩn bị cho ra đời sản phẩm phái sinh và ETF, tôi tự hỏi, nếu xảy ra tình trạng kém thanh khoản của các tài sản cơ sở thì điều gì sẽ xảy đến với thanh khoản và độ biến động của các sản phẩm phái sinh và ETF? Và người ta cũng biết rằng, độ biến động của chính sản phẩm phái sinh và ETF lại quay lại tác động đến tài sản cơ sở.
Nói vậy để thấy, dù chỉ là một trong những nguồn thông tin dành cho những người có quan hoài, nhưng BCTN ít nhiều phản chiếu được ban lãnh đạo công ty quan hoài tới cổ đông (shareholders) và các bên can dự (stakeholders) tới mức nào.
Nhưng hàm chứa trong nó lại là những vấn đề cũ. Nếu nhìn lại vấn đề rủi ro phát xuất từ đầu tư BĐS, chứng khoán và rủi ro lãi suất, trước khi khủng hoảng xảy ra và ngay cả trong thời kì đó, tôi tin rằng, những thông báo tìm được trong BCTN không nói cho nhà đầu tư biết được doanh nghiệp đang xử lý nó như thế nào.
Tóm lại, nhìn tổng thể, tôi thấy có những chuyển biến đáng kể trong cách mà các CTCK và thị trường vận hành, trong hành vi nhà đầu tư, giới phân tách và giới báo chí theo dõi thị trường. Sự kiện HAGL chỉ là một sự kiện gần đây. Mặt khác, các thông tin được cung cấp về quản trị các loại rủi ro đáng tin cậy và hữu dụng đến mức nào? chẳng hạn, mỏng của vàng anh Gia Lai (HAGL) năm 2012 nói rất nhiều về quản trị rủi ro và phát triển vững bền, nhưng phần nhiều trong số đó là những thông báo hăng hái.
Chúng ta đang xem nó như một thị trường vốn hiện đại cần phát triển để cung cấp vốn cho nền kinh tế hay là một kênh kiếm “tiền nóng”? Đến việc làm BCTN của DN Dừng lại với những câu hỏi về TTCK nói chung, tôi quay về những câu hỏi đối với BCTN và độ minh bạch của thị trường.
Chả hạn, nếu ai đó đi tìm thông tin về các sản phẩm phái sinh tín dụng hay cho vay thứ cấp trong BCTN của một số ngân hàng đã sụp đổ của nước ngoài thì cũng không thấy.
Nhưng sự dị biệt là sau một đôi sự kiện và thời kì, người ta có những sự đổi thay rất lớn lao về chuẩn bẩm, quy tắc và sự nghiêm khắc của tầng lớp (bao gồm báo chí, giới nghiên cứu và giới phân tách) về những thông tin từng bị rơi vào mảng xám để giới đầu tư nhỏ, ít có thông tin nội bộ được cảnh báo.
Từ chuyện về tổng thể thị trường Nhìn tổng thể thị trường, một phát biểu gần đây gây ấn tượng với tôi là nhận định của ông Phạm Ngọc Bích, Giám đốc khối khách hàng tổ chức CTCK Sài Gòn (SSI) về 4 điểm yếu của TTCK Việt Nam.
Những câu hỏi như HĐQT làm gì để được hưởng lương thưởng cao, chính xác là bao lăm, công ty được quản ngại ra sao, kiểm soát nội bộ, quản trị rủi ro như thế nào.
Đây là một điều mà nhiều đồng nghiệp của tôi bên này làm nghiên cứu và các khách mời diễn giả từ các doanh nghiệp gọi là… làm cho có, để tuân thủ quy định hoặc cho giống các công ty khác trong khi tính dễ đọc và có hữu ích cho quyết định đầu tư là… gần như số không.
Một BCTN tốt bao gồm các đặc điểm: kể một câu chuyện về công ty dễ hiểu, hấp dẫn, khái quát bộ mặt và triển vọng của công ty; cung cấp thông báo có ích cho nhà đầu tư và những người quan hoài khác; bảo đảm câu chuyện và thông báo đó đáng tin cậy. Đây là khu vực ít thuộc vùng “màu xám” - thỉnh thoảng những tuyên bố trong đó khó có thể kiểm chứng là nó chuẩn xác hay không.
Mỏng thường niên tốt nhất 2013 Đối với một nhà đầu tư, nhà phân tích tài chính hay một nhà báo bắt đầu quan hoài tới một công ty mới, thưa thường niên (BCTN) là một trong nhiều nguồn thông báo mà họ tìm đến, để biết công ty này làm gì, định hướng thế nào, lờ lãi ra sao, được quản ngại thế nào? nên, BCTN vừa là một dụng cụ Báo cáo kết quả nhưng cũng là một dụng cụ kể chuyện về công ty cho công chúng.
Các thông báo và diễn tả về rủi ro trong các BCTN 2012 nhiều hơn, nằm cả trong phần nội dung chính và đề cập thêm trong các vắng tài chính so với những mỏng từ 2005 đến 2007. Điều bất thần là đây là 4 điểm tôi đã đọc được từ luận văn của một bạn sinh viên đại học của tôi năm 2004 về việc tạo thị môn phái sinh chứng khoán ở Việt Nam, và đọc được những luận điểm tương tự ở nhiều nơi suốt từ đó đến nay.
Và có nhẽ đã đến lúc chúng ta cần lấy ý kiến rộng rãi về cách thức nhà đầu tư trong và ngoài nước muốn các dụng cụ bàn bạc với cổ đông đó (bao gồm BCTN) đổi thay sao cho có lợi cho họ.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét