(…) Mỗi khi tàu đỗ, (…) tiếng hát xẩm lại thảm thiết rên rỉ: ‘Này anh khóa ơi…’ Ai oán vang lên tiếng nức nở triền miên là câu kẻ khó xin ăn: ‘Con cá nó sống vì nước
” Ông bảo, hàng ngày, qua ô cửa sổ, nhìn ra ngoài đường, thấy những người bán hàng văng tục, chửi bậy, cãi cọ và lừa lật khách mua hàng mà buồn! “Vẻ thanh nhã của Hà Nội xưa đâu rồi?” nhà văn trằn trọc. Đó không chỉ là phương tiện chúng ta đi mà xung quanh nó còn là những cảnh đời, thân phận của bao kiếp người,” giọng run run xúc động, nhà văn hồi ức lại.
Trong trí nhớ của nhà văn già đã sống, gắn bó với Hà Nội hơn chín thập kỷ nay, người Hà Nội xưa nề nếp hơn hiện thời. Hà Nội của những người cần lao Lặng đi chừng vài phút, nhà văn Tô Hoài trải lòng: “Viết và nhớ về người Hà Nội xưa, tôi chỉ muốn viết và nhớ về những người cần lao bình thường, đặc biệt là những người cần lao thời Pháp thuộc; bởi đơn giản thôi, tôi cảm được nhịp sống, tâm can của họ và thấy nó hợp với cái ‘tạng’ mình.
” Ký ức ùa về như những thước phim quay chậm trước đôi mắt mờ nhòe của ông. /. Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học-Nghệ thuật (Đợt 1, năm 1996). “Hà Nội hiện nay khác xưa nhiều lắm nhưng tôi tin rằng, những ai đã sống qua những năm tháng ấy hẳn sẽ không bao giờ quên xe điện.
Nhà văn Tô Hoài tên thật là Nguyễn Sen. ” Thế nhưng, “ấn tượng sâu đậm nhất vẫn là những câu chuyện về Hà Nội xưa cũ gắn với thời thanh niên trẻ trai của mình. “Cậu bé đau lắm, đầu gối nó to hơn cả ống chân và lúc ấy, máu chảy ít lắm.
Một số giải thưởng lớn của nhà văn Tô Hoài: Giải nhất Tiểu thuyết của Hội Văn nghệ Việt Nam năm 1956 (với tác phẩm “Tây Bắc” ). Giải thưởng của Hội Nhà văn Á-Phi năm 1970 (với tiểu thuyết “Miền Tây” ). Nói rồi, đôi mắt đã mờ nhòe của ông rưng rưng.
Khi còn là một thanh niên cỡ chừng 20, 25 tuổi, tôi đã chứng kiến nhiều người dân làng tôi quảy trẻ con sang bán ở các chợ bên kia sông Hồng, mong chúng vào được gia đình nào có cái ăn bởi ở lại với gia đình, vững chắc chúng sẽ chết đói. Lớp hậu sinh đừng quên rằng, tiên nhân mình từng phải trải qua thời kỳ làm vần vật từ mờ sáng đến nửa đêm mà vẫn đói khổ,” giọng nhà văn như nghẹn lại, đôi mắt nheo nheo.
Cũng cho nên, ông luôn muốn tiếp những trang viết về Hà Nội như là một sự “tự thuật đời sống tinh thần, vật chất và hoạt động của một địa phương (…), là khơi gợi và coi xét để thấy được lịch sử mỗi vùng làm nên hình ảnh cả nước, cả dân tộc, có nối tiếp và lâu dài. Lật giở lại những trang viết dù đôi mắt không còn nhìn rõ, ông bảo, hình ảnh xe điện leng keng là một trong những ký ức mà ông nhớ nhất về Hà Nội của một thời đã xa
Ông sinh năm 1920 tại làng Nghĩa Đô (huyện Từ Liêm, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông-nay thuộc phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, Hà Nội). Trong chính tập ký sự “Chuyện cũ Hà Nội” của mình, nhà văn ghi lại: “Cái tàu điện (…) chạy ầm ầm giữa tiếng chuông ở chân người lái tàu dận xuống, thành tiếng dài dài keng keng ầm ầm mà người vùng Bưởi gọi là tiếng ‘keng ầm’ xe điện.
Nhà văn Tô Hoài (Ảnh: Báo Ảnh Việt Nam/TTXVN) Cũng là “không quá khi người ta coi ông là một nhà Hà Nội học và một nhân chứng của đất Thăng Long gần một thế kỷ với bao vận động, biến thiên,” thi sĩ Trần đại đăng khoa san sớt. Nước mắt chảy tràn nơi khóe mắt nhăn nheo của nhà văn khi ông kể lại câu chuyện một cậu bé bị quân Nhật đánh vào đập vào đầu gối, lộ cả xương.
Nói đến đây, nhà văn Tô Hoài thở dài: “hiện thời, đời sống khá hơn, người lao động không khổ như xưa nữa nhưng sao thói chộp giật, xô bồ cứ càng ngày càng nhiều.
Thế nhưng, trong tâm thức dân gian, phố xá, mảnh đất ấy vẫn luôn được gọi là Kẻ Chợ; và dù ở thời điểm nào, với tên gọi nào thì trọng tâm của bức tranh ấy vẫn là đời sống, sinh hoạt của những người dân trên mảnh đất ấy. ” “Tôi viết để nhắc người ta nhớ rằng, để có một Thủ đô phồn hoa, rộn rịp như ngày nay thì cũng đã có một thời kỳ Hà Nội lầm than.
Ắt cũng chỉ vì đói quá, không có gì ăn!” nhà văn hồi ức. Những ký ức về Hà Nội luôn đong đầy trong những trang văn và câu chuyện của nhà văn Tô Hoài. Tôi muốn viết để ghi lại những cảnh, những nếp… trong đời sống vật chất và tinh thần của người dân Hà thành; có những điều mà sẽ khó có thể tìm thấy trong đời sống đương đại như niềm vui đón tết của trẻ mỏ với đôi guốc mộc mới, miếng khế khô lẫn mật gừng…” tác giả của tập ký sự về lịch sử Thăng Long -“Chuyện cũ Hà Nội” san sẻ.
Con sống vì các ông các bà, các ông các bà ơi’…” Một chuyến tàu điện xưa chấm dứt hành trình ở khu vực chợ Đồng Xuân (Ảnh tư liệu: TTXVN) Chậm rãi, nhà văn kể, những tên gọi của Hà Nội như Thăng Long, Đông Quan, Đông Đô… thay đổi theo các thời kỳ lịch sử. “Chuyện cũ Hà Nội” Ở tuổi ngoài 90, sức khỏe nhà văn đã yếu đi nhiều nhưng vẫn nguyên lành trong ông niềm xúc động, nghèn nghẹn mỗi khi nhắc tới những câu chuyện về Hà Nội của một thời xưa cũ.
Giải A Giải thưởng Hội Văn nghệ Hà Nội năm 1970 (với tiểu thuyết “Quê nhà” ). Mạch chuyện nối dài, ông bảo, “chuyện chị Dậu bán con trong tiểu thuyết ‘Tắt đèn’ của cụ Ngô Tất Tố không phải là điều gì xa lạ trong từng lớp thời đó.
Ông kể, thời trước khi vào nội thị, những người gánh hàng rong phải đứng xếp hàng ở đầu các cửa ô để đóng thuế; và “gánh hàng rong luôn mang đúng tức là gánh hàng rong, cứ rong ruổi qua các phường phố chứ không có chuyện đứng hẳn đâu đó để bán hàng như hiện thời,” nhà văn nhớ lại. Nở nụ cười móm mém đầy vẻ phúc hậu, nhà văn san sớt: “Tôi viết bằng những hoài niệm về Hà Nội của một thời đã xa và đôi khi, bằng chính những câu chuyện trong đời sống tỉnh thành phồn hoa ngày nay.
An Ngọc (Vietnam+). Nó cũng là kỷ yếu đời người, bài học bữa nay và mai sau” như lời san sẻ trong ký sự “Sự tích làng” của chính ông.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét