Cô Toàn giãi bày: NCKH là một công việc thầm lặng, lặng lẽ, làm không vì khen thưởng và không vì danh vọng
Cô đã dạy các em từng mặt chữ, từng con số trong hoàn cảnh còn khó khăn, thiếu thốn đủ bề, những bài giảng được soạn bên những bữa ăn chỉ có rau rừng và được soạn tranh thủ khi còn ánh nắng kim ô …Thế nhưng cô đã đem khôn cùng mình để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục vùng khó.
Cô Tuyền vẫn còn nhớ như in lần vận động được cả hai vợ chồng người dân tộc đi học. Cô kể: Do ảnh hưởng của phong tục tập quán, một bộ phận dân tộc ít người như: Mông, Dao,… có phong tục lấy vợ, lấy chồng sớm. Thế nhưng, đó lại là một niềm hạnh phúc rất riêng, rất âm thầm, giúp họ có thể vượt qua các nghiên cứu đầy thử thách.
“Với mỗi xuân đường đang công tác ở vùng sâu, vùng xa như chúng tôi, bên cạnh sự máu nóng với nghề, rất cần sự nhiệt thành, nghĩa vụ và cả sự hy sinh…” Hoàng Thị Tuyền xuân đường Trường THCS Pác Pó (Hà Quảng - Cao Bằng) Hải Phong
Do đó để các em không bỏ học, cô đã không quản ngại khó khăn, vất vả bám trường, bám lớp, đầu tư nhiều thời gian để nắm bắt tâm tình, tình cảm của các em, từ đó khích lệ, khuyến khích các em hăng say học tập và đến lớp đầy đủ.
PGS. Cô Phạm Thị Xuân cùng các em học sinh Trường tiểu học Nậm Cần trong giờ học môn tiếng Việt Nỗi lòng GV vùng khó Cô giáo Phạm Thị Xuân – Trường Tiểu học xã Nậm Cần, (Tân Uyên - Lai Châu) người đã có 35 năm trong ngành giáo dục và 25 năm trực tiếp làm công tác giảng dạy học sinh tiểu học tại những địa bàn thuộc vùng kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn với 100% học trò là con em các dân tộc thiểu số, phần nhiều gia đình học trò có tình cảnh khó khăn.
Thấy các em nói thạo tiếng Việt rồi khôn lớn, trưởng thành mà lòng tôi mừng vui khôn xiết”. TS Trần Thị Chung Toàn – Trưởng khoa tiếng Nhật Trường Đại học Hà Nội – Người vừa được nhận giải thưởng anh tài sáng tạo nữ Tổng liên đoàn năm 2013 với công trình NCKH “Xây dựng tư liệu học chữ Hán trong tiếng Nhật cho người Việt trên cơ sở tận dụng kiến thức Hán - Việt”.
Trọng tâm trường cách xa huyện lị, đường sá đi lại hiểm trở, khó khăn, lớp cô đảm trách lại là một lớp có nhiều đối tượng học trò. Lúc bấy giờ có học sinh lớp 7 người dân tộc Mông bỏ học về nhà lấy chồng, cô đã phải lặn lội hàng chục cây số, đến từng nhà rất nhiều lần để khích lệ các em đi học, sau bao nhiêu khó nhọc, nạm, rút cuộc cô đã vận động được cả 2 vợ chồng tiếp kiến đi học
- Môn nghề giáo: Những dấu lặng vô giá - Dùng âm nhạc để hướng thiện Cô Hoàng Thị Tuyền bàn bạc bài với học trò 35 năm gắn bó với nghề Ra trường từ năm 1986, đến nay cô Hoàng Thị Tuyền – càn Trường THCS Pác Pó (Hà Quảng - Cao Bằng) đã có hơn 35 năm gắn bó với các em học sinh dân tộc thiểu số thuộc vùng có điều kiện kinh tế, từng lớp đặc biệt khó khăn.
Cô Xuân tâm can: “Tôi cảm thấy hạnh phúc khi thấy con chữ đã về với các em, về với bản làng. Thỉnh thoảng phụ huynh hoặc học sinh nhớ cô giáo đến tặng một vài củ sắn, củ khoai, vài cân ngô hay mấy bông huơ rừng cùng những lời chúc vẫn còn bẽn lẽn, vụng trộm, những tình cảm linh, rất đỗi mộc mạc, giản dị và tình thực. Cô Tuyền thông tõ: “Đôi khi hạnh phúc của người thầy chỉ cần như thế là đủ”.
Giờ đây, cô vừa là người mẹ vừa là người bạn của các em học trò và cô đã trở thành thành viên thân thuộc của bản làng Nậm Cần. Những người làm NCKH chính yếu phải tự nghiên cứu, mày mò như những con ong chăm chỉ tích lũy tri thức cho tầng lớp, may mắn lắm được giải thưởng này, giải thưởng kia thì mới có người biết và quan tâm đến.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét